-
Kiến thức
Cập nhật kiến thức thị trường, tài chính và đầu tư với Finka. Nâng cao hiểu biết và quyết định đầu tư thông minh
.png)
Cổ tức bằng cổ phiếu là hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu, thay vì trả bằng tiền mặt. Số lượng cổ phiếu mới được phát hành sẽ được tính toán dựa trên tỷ lệ cổ tức được chia và giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu.
Giá cổ phiếu sau điều chỉnh (Pđc) được tính theo công thức sau:
Pđc = P0 / (1 + Rctcp + Rcpt)
Trong đó:
Ví dụ:
Doanh nghiệp A có giá tham chiếu tại ngày giao dịch không hưởng quyền là 20.000 đồng/cổ phiếu. Tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu là 10% và tỷ lệ chia cổ phiếu thưởng là 10%. Vậy giá cổ phiếu A sau điều chỉnh:
Pđc = 20.000 / (1 + 10% + 10%) = 20.000 / 1.2 = 16.667 đồng/cổ phiếu.
Giải thích:
.png)
.png)
Cổ tức bằng cổ phiếu là hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu, thay vì trả bằng tiền mặt. Việc nhận cổ tức bằng cổ phiếu có thể mang lại một số lợi ích cho nhà đầu tư, tuy nhiên cũng có một số lưu ý mà nhà đầu tư cần quan tâm:
Việc phát hành thêm cổ phiếu mới sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường, dẫn đến việc pha loãng giá trị của mỗi cổ phiếu hiện hữu. Điều này có nghĩa là mỗi cổ phiếu sẽ đại diện cho một phần nhỏ hơn trong tổng tài sản và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ví dụ:
Doanh nghiệp A có 1 triệu cổ phiếu đang lưu hành với giá trị sổ sách là 10.000 đồng/cổ phiếu. Doanh nghiệp A quyết định chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 10%, nghĩa là mỗi cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được nhận thêm 0,1 cổ phiếu mới. Sau khi chia cổ tức, số lượng cổ phiếu lưu hành sẽ tăng lên 1,1 triệu cổ phiếu. Do đó, giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu sẽ giảm xuống còn 9.091 đồng/cổ phiếu.
Mặc dù số lượng cổ phiếu của nhà đầu tư tăng lên sau khi chia cổ tức bằng cổ phiếu, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư trong doanh nghiệp sẽ không thay đổi. Điều này có nghĩa là, sau khi chia cổ tức, nhà đầu tư vẫn sẽ sở hữu cùng một tỷ phần vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp như trước đây.
Theo quy định hiện hành của Việt Nam, nhà đầu tư sẽ bị tính thuế thu nhập cá nhân 5% trên giá trị cổ phiếu được nhận khi nhận cổ tức bằng cổ phiếu.
Ví dụ:
Doanh nghiệp B có giá tham chiếu tại ngày giao dịch không hưởng quyền là 20.000 đồng/cổ phiếu. Tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu là 10%. Vậy, mỗi cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ được nhận thêm 10 cổ phiếu mới. Giá trị của 10 cổ phiếu mới này là 20.000 đồng/cổ phiếu * 10 = 200.000 đồng. Do đó, nhà đầu tư sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân là 200.000 đồng * 5% = 10.000 đồng.
Cổ phiếu mới được nhận sau khi chia cổ tức bằng cổ phiếu thường có thời gian lưu ký nhất định trước khi có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của cổ phiếu đối với nhà đầu tư.
Nhà đầu tư nên đánh giá kỹ lưỡng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trước khi quyết định có nên nhận cổ tức bằng cổ phiếu hay không. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu thường cho thấy doanh nghiệp có ý định tái đầu tư lợi nhuận để phát triển kinh doanh. Do đó, nhà đầu tư cần tin tưởng vào tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trước khi quyết định nhận cổ tức bằng cổ phiếu.
Cổ tức bằng cổ phiếu có thể mang lại một số lợi ích cho nhà đầu tư, tuy nhiên cũng có một số lưu ý mà nhà đầu tư cần quan tâm. Nhà đầu tư cần cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố như ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, tỷ lệ sở hữu, thuế, khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trước khi quyết định có nên nhận cổ tức bằng cổ phiếu hay không.